Việt Kiều

Việt kiều hay người Việt hải ngoại là cộng đồng Việt định cư bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Từ điển Thiều Chửu định nghĩa chữ “kiều” (僑) là “ở nhờ, đi ở nhờ làng khác hay nước khác gọi là kiều cư, kiều dân”[25]. Cụm từ “Việt kiều” được những người sống tại Việt Nam dùng để gọi những người Việt sống ở nước ngoài chứ không phải là thuật ngữ được chính họ sử dụng.[26] Tại Việt Nam ngày nay, từ “kiều bào” cũng được dùng với nghĩa tương tự.

Đầu thập niên 1970 có khoảng 100.000 người Việt sống ngoài Việt Nam, chủ yếu tập trung tại các nước láng giềng (Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện, v.v.) và Pháp. Con số này tăng vọt sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 và số quốc gia có người Việt định cư cũng tăng theo; họ ra đi theo đợt di tản tháng 4 năm 1975, theo các đợt thuyền nhân và theo Chương trình Ra đi có Trật tự. Đầu thập niên 1990 với sự sụp đổ của khối Đông Âu và Liên Xô, những người do nhà nước Việt Nam cử đi học tập, lao động không trở về nước đã góp phần vào khối người Việt định cư tại các nước này. Như vậy, ngoài Việt Nam hiện nay có khoảng 4 triệu người Việt sinh sống trên hơn 100 quốc gia ở năm châu lục, trong đó có 1,799,632 sống tại Hoa Kỳ.[27]

Thuật ngữ “Việt Kiều” được sử dụng bởi những người ở Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để chỉ dân tộc Việt Nam sống ở nước ngoài, không phải là một thuật ngữ tự xác định. [31] Cộng đồng người Việt ở nước ngoài bản thân hiếm khi sử dụng điều này để tự xác định, thay vào đó, hầu hết thích thuật ngữ kỹ thuật chính xác của người Việt Hải Ngoại (nghĩa đen dịch sang tiếng Việt ở nước ngoài), hoặc thỉnh thoảng người Việt Tự Do (Free Việt Nam). Khoảng 3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, phần lớn là người tị nạn rời Việt Nam sau năm 1975 là kết quả của sự sụp đổ của Sài Gòn và kết quả tiếp quản của chế độ Cộng sản.

Viet Kieu

Viet Kieu

Việt kiều trên thế giới

Theo số liệu của Học Viện Ngoại Giao [1] năm 2012, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có trên 4 triệu người và phân bố không đồng đều tại 103 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, 98% trong số đó tập trung ở 21 nước tại Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Đại Dương.

Tên nước Dân số theo ước tính của Bộ Ngoại giao
Mỹ 2.200.000
Pháp 300.000
Úc 300.000
Canada 250.000
Đài Loan 200.000
Campuchia 156.000
Thái Lan 100.000
Malaysia 100.000
Hàn Quốc 100.000
Nga 60.000
Cộng hòa Séc 60.000
Anh 40.000
Nhật 40.000
Lào 30.000
Ba Lan 20.000
Na uy 19.000
Hà Lan 19.000
Bỉ 14.000
Thụy Điển 14.000
Đan Mạch 14.000

Hoa Kỳ (American / USA)

Bài chi tiết: Người Mỹ gốc Việt

Với gần 1.8 triệu người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ[27], vào thời điểm năm 2010 số người Việt ở Mỹ chiếm khoảng một nửa số Việt kiều trên toàn thế giới. Họ thường tập trung ở miền Tây, chủ yếu là ở các khu vực đô thị. Riêng tiểu bang California chiếm phân nửa, tập trung đông đảo nhất tại Quận Cam, sau đó là San Jose, California và Houston, Texas. Trong số 1,132,031 người từ 25 tuổi trở lên, 30.2% không có bằng trung học, 21.5% chỉ tốt nghiệp trung học hoặc tương đương, 18.6% có bằng cử nhân, 22.8% có bằng nghề hoặc liên kết, 6.9% có bằng tốt nghiệp[28] hoặc chuyên nghiệp[27]. Vì hầu hết số người Mỹ gốc Việt là người tỵ nạn chống cộng sản hay thân nhân của người tỵ nạn, họ là thành phần bất đồng chính kiến với chính quyền cộng sản Việt Nam.[29] Nhiều người Mỹ gốc Việt thường xuyên biểu tình lên án tình trạng nhân quyền tại Việt Nam và gần đây đã vận động chính quyền địa phương công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng hòa làm biểu tượng cho cộng đồng người Việt Hải Ngoại qua “Chiến dịch Cờ Vàng” và nay được xem là “Lá cờ Tự do và Di sản” (Heritage and Freedom Flag) của người Việt tại Mỹ.

Canada

Bài chi tiết: Người Canada gốc Việt

Người Canada gốc Việt (tiếng Anh: Vietnamese Canadian) là những người sinh sống tại Canada có nguồn gốc dân tộc Việt. Người Việt tại Canada là một trong những cộng đồng dân tộc có nguồn gốc khác châu Âu lớn nhất tại Canada.

Những người Việt đầu tiên tại Canada là sinh viên học sinh du học từ miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Nhiều người Việt bắt đầu di cư đến Canada sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, với hàng nghìn người tị nạn từ miền Nam Việt Nam để tránh chế độ cộng sản. Từ con số 1.500 người vào cuối năm 1974, cộng đồng người Việt tại Canada đã tăng trưởng mạnh và đã lên đến 180.000 người vào năm 2006, trở thành một trong những cộng đồng người Việt hải ngoại lớn nhất trên thế giới.

Úc (Australia)

Bài chi tiết: Người Úc gốc Việt

Theo cuộc thống kê toàn quốc năm 2001, dân số Úc có 154.807 người sinh tại Việt Nam và 174.246 người dùng tiếng Việt trong các hoạt động trong gia đình[30]. Nếu kể cả những con em gốc Việt sinh tại Úc, con số người gốc Việt lên đến 245 ngàn người. Vì lý do ngôn ngữ, liên hệ gia đình, việc làm và nhất là do tình đồng hương, đa số người Việt sống quây quần với nhau và thường tập trung tại các thành phố lớn như Sydney, Melbourne. Người Việt vùng Sydney tụ tập đông nhất ở Cabramatta, còn mệnh danh là “Saigonmatta”[cần dẫn nguồn], và khu Bankstown ở ngoại ô phía tây thành phố. Cộng đồng người Việt tại Úc là một cộng đồng non trẻ, vì mới thành lập và có tuổi bình quân là trẻ. Người Việt tại Úc thường sống rất đoàn kết[cần dẫn nguồn], và thường xuyên có những sinh hoạt cộng đồng để giữ gìn văn hóa và bản sắc Việt[cần dẫn nguồn]. Nhiều Hội đoàn đồng hương được thành lập, như Cộng đồng Người Việt Tự do Liên bang Úc châu. Nhiều người Úc gốc Việt cũng tạo nhiều thành công trong đời sống. Về mặt chính trị, nhiều người cũng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyển Úc, như ông Lê Văn Hiếu hiện là Phó toàn quyền tiểu bang Nam Úc, bà Lâm Lệ Hoa (Le Lam) hiện là thị trưởng thành phố Auburn, New South Wales và là phụ nữ Úc cũng như người châu Á đầu tiên giữ chức vụ thị trưởng tại Úc[31], Nguyễn Minh Sang (Sang Nguyen) từng là thị trưởng trẻ nhất quận hạt Richmond và hiện là nghị sĩ tiểu bang Victoria[32]. Về khoa học, nữ Tiến sĩ Vũ Thị Ngọc Trang là phụ nữ đầu tiên được bổ nhiệm vào Viện Khoa học Kỹ thuật Hoàng gia, kiêm nhiệm chức vụ giám đốc Trung tâm Nghiên cứu xã hội thực nghiệm Úc, giáo sư – tiến sĩ sử học Trần Mỹ Vân tại Đại học Nam Úc (University of South Australia).

Campuchia

Người Việt chiếm khoảng 5% dân số Campuchia, [3] làm cho họ trỡ thànhcác dân tộc thiểu số lớn nhất. Nhân dân Việt Nam bắt đầu di cư sang Campuchia vào đầu thế kỷ 17. Năm 1863, khi Campuchia trở thành một thuộc địa của Pháp, nhiều người Việt Nam đã được đưa đến Campuchia do người Pháp để làm việc trên các đồn điền chiếm vị trí công chức. Trong chế độ Lon Nol (1970-1975) chế độ Pol Pot (1975-1979), nhiều người Việt Nam sống tại Campuchia thiệt mạng. Những người khác được, hoặc hồi hương hoặc trốn sang Việt Nam hoặc Thái Lan. Trong thời gian chiếm Việt Nam mười năm của Campuchia từ năm 1979 đến năm 1989 nhiều người Việt Nam trước đây đã sống ở Campuchia trở về. Cùng với họ, bạn bè và người thân. Ngoài ra, nhiều người lính miền Nam Việt Nam trước đây đến Campuchia chạy trốn cuộc đàn áp của nhà cầm quyền.

Nhiều người sống ở Campuchia thường nói tiếng Việt như ngôn ngữ đầu tiên của họ và đã giới thiệu các tôn giáo Cao Đài với 2 ngôi đền được xây dựng tại Campuchia. Nhiều người Campuchia đã học tiếng Việt như một kết quả. Họ tập trung ở các tỉnh Kratie Takeo của Campuchia, nơi có làng chiếm ưu thế của dân tộc Việt Nam.

Nhân dân Việt Nam cũng là những du lịch hàng đầu tại Campuchia, với 130.831, tăng 19 phần trăm kể từ năm 2011. [35]

Pháp (France)

Bài chi tiết: Người Pháp gốc Việt

Đền du lưu niệm Indochinois trong Bois de Vincennes, được dựng lên vào năm 1907, là một tượng đài được xây dựng bởi những con sóng đầu tiên của người di cư Việt Nam Pháp.

Số lượng các dân tộc Việt Nam sống ở Pháp được ước tính là khoảng 300.000 như năm 2012. [4] Không giống như cộng đồng người Việt ở nước ngoài khác bên ngoài Đông Á, dân số Việt Nam tại Pháp đã được thành lập cũng như trước khi kết thúc chiến tranh Việt Nam cộng đồng người đó là kết quả của .

Pháp là quốc gia phương Tây đầu tiên người di cư Việt Nam định cư do thực dân của Việt Nam là Pháp bắt đầu vào cuối năm 1850. [36] Trong thời kỳ thuộc địa, có một đại diện đáng kể của sinh viên Việt Nam tại Pháp, cũng như chuyên nghiệp và công nhân cổ xanh, với nhiều giải quyết vĩnh viễn. [37]

Một số người Việt Nam trung thành với chính quyền thực dân và Việt Nam kết hôn với thực dân Pháp di cư sang Pháp sau nền độc lập của Việt Nam thông qua Hiệp định Genève năm 1954. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, một số lượng lớn các sinh viên và những người tham gia thương mại điện từ miền Nam Việt Nam tiếp tục đến Pháp. Tuy nhiên, dòng lớn nhất của người Việt Nam đến Pháp như những người tị nạn sau sự sụp đổ của Sài Gòn và kết thúc chiến tranh Việt Nam vào năm 1975. Người Việt NamTị nạn định cư ở Pháp thường có nồng độ giáo dục cao hơn và sung túc so với những người định cư tại Bắc Mỹ, Úc, phần còn lại của châu Âu. [37]

Đức (German)

Người Việt dân tộc châu Á lớn nhất ở Đức. [45] Năm 2011, có khoảng 137.000 người gốc Việt ở Đức. [46] [47] Trong miền tây nước Đức, hầu hết người Việt đến những năm 1970 hoặc năm 1980 như những người tị nạn từ chiến tranh Việt Nam. Cộng đồng người Việt tương đối lớn hơn ở Đông Đức dấu vết nguồn gốc của nó để Hiệp định tương trợ giữa Đông Đức chính phủ Bắc Việt Nam. Theo các thỏa thuận này, người lao động từ Việt Nam đã được đưa đến Đông Đức, nơi họ nhanh chóng tạo thành các nhóm nhập cư lớn nhất, [48] được cung cấp đào tạo kỹ thuật. Sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin, nhiều người đã ở Đức, mặc dù họ thường xuyên phải đối mặt với phân biệt đối xử, đặc biệt là trong những năm đầu sau thống nhất đất nước.

Cộng hòa Séc (Czech Republic)

Số lượng người Việt Nam tại Cộng hòa Séc được ước tính khoảng 61.012 tại điều tra dân số năm 2009, [49] mặc dù con số gần đây đã đặt số lượng cao như 80.000. [50]

Hầu hết những người nhập cư Việt Nam tại Cộng hòa Séc cư trú tại Prague, nơi có một vùng đất được gọi là “Little Hanoi”, đặt theo tên của thủ đô Hà Nội của Việt Nam. Không giống như những người nhập cư Việt Nam ở Tây Âu Bắc Mỹ, những người nhập cư thường là cán bộ cộng sản học tập, làm việc ở nước ngoài quyết định ở lại sau khi sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Trung và Đông Âu. Tên họ Việt Nam Nguyễn thậm chí còn được liệt kê như là phổ biến nhất của tên họ nước ngoài tại Cộng hòa Séc và là lần thứ 9 họ phổ ​​biến nhất trong cả nước nói chung. [51]

Vương quốc Anh (England)

Người Việt Nam định cư Vương quốc Anh số khoảng 55.000 người, trong đó trái ngược với xu hướng của Anh chăm sóc để người di cư Đông và Đông Nam châu Á lớn nhất ở châu Âu. Trong những năm 1980, Margaret Thatcher đồng ý nhận hạn ngạch của người tị nạn và 12.000 thuyền nhân đã đến Anh [52] Các cộng đồng người Việt có uy tín nhất ở Anh là Hackney và các bộ phận khác của London. Ngoài ra còn có các cộng đồng ở Birmingham, Manchester các thành phố khác.

Ba Lan

Khoảng 50.000 người Việt sinh sống tại Ba Lan, chủ yếu là ở các thành phố lớn. [53] Họ xuất bản một số tờ báo, cả ủng hộ và chống Cộng. Những người nhập cư đầu tiên là sinh viên Việt Nam tại các trường đại học Ba Lan trong thời kỳ hậu Chiến tranh Thế giới II. Những con số này tăng nhẹ trong thời gian chiến tranh Việt Nam, khi thỏa thuận giữa hai chính phủ cộng sản Việt Nam Ba Lan cho phép lao động Việt Nam được đào tạo công nghiệp ở Ba Lan. Một số lượng lớn người nhập cư Việt Nam cũng đến sau năm 1989. [54]

Bỉ

Ước tính có khoảng 14.000 dân tộc Việt Nam cư trú tại Bỉ năm 2012. Tương tự như cộng đồng người Việt tại Pháp, cộng đồng người Bỉ Việt bắt nguồn để trước khi kết thúc chiến tranh Việt Nam. Bắt đầu từ giữa những năm 1960, Bỉ đã trở thành một điểm đến lựa chọn phổ biến Pháp cho miền Nam Việt Nam tìm kiếm giáo dục đại học cơ hội nghề nghiệp ở nước ngoài. Một dòng lớn hơn nhiều của người Việt Nam đến như những người tị nạn sau sự sụp đổ của Sài Gòn. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, một số ít công nhân Việt Nam trong các nước cựu Khối người được tài trợ bởi chính phủ Việt Nam cộng sản cũng tìm cách xin tị nạn tại Bỉ. [21]

Dân số Bỉ Việt Nam chủ yếu nằm trong xung quanh thủ đô Brussels hoặc ở khu vực Wallonia nói tiếng Pháp ở miền Nam, đặc biệt là xung quanh thành phố Liège. Như ở Pháp, những người tị nạn miền Nam Việt Nam sang Bỉ phần lớn các cao địa vị xã hội tích hợp dễ dàng hơn nhiều vào xã hội nước sở tại của họ so với những người định cư tại Bắc Mỹ, Úc phần còn lại của châu Âu do kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa tốt hơn. Cộng đồng người Bỉ Việt Nam đang gắn bó với cộng đồng đối tác của mình ở Pháp, với cả cộng đồng chủ yếu đạt được thành công kinh tế xã hội cao hơn ở các nước chủ nhà của họ hơn dân Việt Nam khác ở nước ngoài. [21]

Nga

Người Việt Nam ở Nga hình thành cộng đồng dân tộc thiểu số 72lớn nhất ở Nga theo điều tra dân số năm 2002. Tổng điều tra dân số ước tính của họ chỉ 26.205 cá nhân, làm cho chúng một trong những nhóm nhỏ hơn của Việt kiều. [55] Tuy nhiên, ước tính không chính thức đưa dân của họ cao như 100.000 đến 150.000. [14] [56]

Na Uy

Ước tính có khoảng 21.700 dân tộc Việt Nam sống ở Na Uy kể từ năm 2014, và đất nước đã tổ chức một cộng đồng người Việt tị nạn kể từ khi khách đến sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam vào năm 1975. Người Việt Nam được coi là một trong những nhóm người nhập cư ngoài phương Tây tích hợp tốt nhất ở Na Uy, có tỷ lệ công dân Na Uy trong những người nhập cư tỷ lệ thành công trong giáo dục ngang bằng với những người dân tộc Na Uy. [57]

Hà Lan

Khoảng 19.000 dân tộc Việt Nam cư trú tại Hà Lan theo một ước tính năm 2010. Cộng đồng bao gồm phần lớn người tị nạn miền Nam Việt Nam là người đầu tiên đến vào năm 1978. Một số nhỏ hơn nhiều của người lao động Bắc Việt Nam cũng đến từ Đông Âu sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin. [20]

Bulgaria

Ước tính có khoảng 1.500 dân tộc Việt Nam sống ở Bulgaria theo một ước tính năm 2005. [29]

Theo các thỏa thuận quốc tế trong năm 1980, Bulgaria, cùng với các thành viên khối Hiệp ước Warsaw khác, chấp nhận lao động Việt Nam được tài trợ bởi chính phủ cộng sản vào nước này như dẫn một lực lượng lao động tương đối rẻ hơn. Tại một thời điểm, hơn 35.000 người Việt Nam làm việc tại Bulgaria từ năm 1980 đến năm 1991, và nhiều sinh viên Việt Nam hoàn thành giáo dục đại học tại các trường đại học Bungari khác nhau. [58]

Đài Loan

Hình thức Việt là một trong những dân tộc nước ngoài lớn nhất tại Đài Loan, với dân số thường trú của khoảng 200.000. Bao gồm cả sinh viên và công nhân nhập cư, dân số Việt Nam ở Đài Loan là khoảng 400.000. [5] Việt Nam ở Đài Loan chủ yếu đến như người lao động trong các ngành công nghiệp sản xuất hoặc người giúp việc. Ngoài ra còn có một số lượng lớn phụ nữ Việt Nam kết hôn với đàn ông Đài Loan thông qua các dịch vụ mai mối quốc tế tại Việt Nam, mặc dù bất hợp pháp của họ ở trong nước. [59]

Hàn Quốc

Như năm 2011, đã có hơn 110.000 người dân tộc Việt Nam tại Hàn Quốc, làm cho chúng những nhóm thiểu số lớn thứ hai trong cả nước. Việt Nam Hàn Quốc bao gồm chủ yếu là lao động di cư và phụ nữ được giới thiệu với người chồng Hàn Quốc thông qua các cơ quan hôn nhân. [60] [61] Trong thế kỷ 13, hàng ngàn Việt trốn sang Hàn Quốc sau khi bị lật đổ của triều đại nhà Việt Nam, nơi mà họ đã nhận được vua Gojong của Goryeo. [62]

Malaysia

Sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975 vào cuối cuộc chiến tranh Việt Nam đã nhìn thấy nhiều người Việt tị nạn chạy trốn bằng thuyền đến Malaysia. Tàu tị nạn đầu tiên đến Malaysia tháng năm 1975, mang theo 47 người. [63] Một trại tị nạn được thành lập sau đó tại Pulau Bidong vào tháng Tám năm 1978 với sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc, và trở thành một trung tâm xử lý người tị nạn lớn cho cư trú tìm kiếm tiếng Việt ở các nước khác. Trong khi một số lượng rất nhỏ của người Việt tị nạn định cư tại Malaysia, phần lớn người Việt Nam tại Malaysia bao gồm công nhân lành nghề và bán lành nghề đến trong những năm 1990 như hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Malaysia tăng lên. [64]

Nhật Bản

Hơn 70.000 người Việt Nam cư trú tại Nhật Bản như năm 2013. [12] Việt Nam đầu tiên đến Nhật Bản như sinh viên bắt đầu từ thế kỷ 20. [65] Tuy nhiên, phần lớn các cộng đồng gồm những người tị nạn đã thừa nhận vào cuối năm 1970 và đầu những năm 1980, cũng như một tỷ lệ nhỏ hơn của người lao động di cư bắt đầu đến vào năm 1994. [66] [67]

Lào

Như Việt Nam và Lào là những nước láng giềng, đã có một lịch sử lâu dài của di cư dân số giữa các vùng lãnh thổ tạo nên hai quốc gia tương ứng. Khi Lào là một bảo hộ của Pháp trong nửa đầu của thế kỷ 20, chính quyền thực dân Pháp đã đưa nhiều người Việt Nam sang Lào làm việc như công chức. Vấn đề này là đối tượng của sự chống đối vất vả của công dân Lào, những người trong năm 1930 đã thực hiện một nỗ lực không thành công để thay thế cho chính quyền địa phương với công chức Lào. [15]

Trung Quốc

Người Việt Nam ở Trung Quốc được gọi là dân tộc Gin, và đến ở đông nam Trung Quốc bắt đầu từ thế kỷ thứ mười sáu. Họ chủ yếu cư trú ở tỉnh Quảng Tây nói tiếng Việt và nhiều địa phương của Quảng Đông. [17]

Hồng Kông

Người Việt Nam di cư đến Hồng Kông đã bắt đầu sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam vào năm 1975, khi thuyền nhân đã xuống biển và bắt đầu chạy trốn Việt Nam trong tất cả các hướng. Những người hạ cánh tại Hồng Kông được đặt trong các trại tị nạn cho đến khi họ có thể được tái định cư ở một nước thứ ba. Cuối cùng, theo Kế hoạch toàn diện của chính phủ Hồng Kông Hành động, mới đến Việt Nam được phân loại là người tị nạn chính trị hoặc người di cư kinh tế. Những coi là người di cư kinh tế sẽ bị từ chối cơ hội tái định cư ở nước ngoài. [Cần dẫn nguồn]

Philippines

Nhiều người tị nạn thuyền Việt Nam vượt qua Biển Đông hạ cánh ở Philippines sau khi sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam vào năm 1975. Những người tị nạn thành lập một cộng đồng gọi là Việt-Ville (tiếng Pháp cho “Việt-Town”) trong Puerto Princesa, Palawan. Vào thời điểm đó, trở thành trung tâm thương mại và văn hóa Việt Nam, với đầy đủ nhà hàng Việt Nam, các cửa hàng, và nhà thờ Công giáo và đền thờ Phật giáo. Trong những thập kỷ tiếp theo sau tuy nhiên, dân số Việt Nam bị thu hẹp rất nhiều, với nhiều người đã di cư sang Hoa Kỳ, Canada, Úc, hay Tây Âu. Việt-Ville hôm nay vẫn còn là một điểm đến phổ biến cho khách du lịch địa phương.

Israel

Số lượng người Việt Nam tại Israel ước tính khoảng 200-400. Hầu hết trong số họ đã đến Israel trong từ năm 1976 đến năm 1979, sau khi Thủ tướng Menachem Begin ủy quyền nhập học của họ để Israel ban cho họ tị nạn chính trị. [68] Những người dân Việt Nam đang sống ở Israel là công dân Israel cũng phục vụ trong Lực lượng Phòng vệ Israel. Hôm nay, phần lớn các cộng đồng sống trong khu vực Gush Dan ở trung tâm của Israel nhưng cũng có một vài chục ViệtIsrael hoặc Israel gốc Việt Nam sống ở Haifa, Jerusalem Ofakim.

Source: http://en.wikipedia.org/wiki/Overseas_Vietnamese

321 Bi`nh luận


Vinh Danh THIÊN CHÚA trên trời, 
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương" (Luca 2:14)

God Bless VIETNAM!






Facebook Tony: https://www.facebook.com/tonytran3000

Youtube videos Tony: https://www.youtube.com/c/TonyTran3000


Binh luan

Thêm ý kiến của bạn:

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Bộ gõ AVIM-Reloaded

Optionally add an image (JPEG only)

  1. em tên ngân 24t hiện đang là single mom nên gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống mong tìm 1 người bạn trai việt kiều mỹ có công việc ổn định để có người nương tựa đến cuối đời ai có ý tốt thì liên hệ với em qua số 01253597172 zalo hoặc viber đều được

  2. Mình sinh năm 1974 đã ly hôn, sống cùng con gái 11 tuổi ở Tp HCM, một chút giận, một chút yêu, một chút quan tâm, một chút chia sẽ những vui buồn trong cuộc sống tôi chưa có được, tôi cần một nữa còn lại, tôi cần một bờ vai của ai đó lớn tuổi hơn và thật lòng không giả dối. Tôi là mẫu người phụ nữ của gia đình, sống thiên về tình cảm ( tôi rất nghiêm túc, tôi không có tiền nên nếu ai có ý định này thì xin đừng làm tổn thương tôi).
    Viber or zalo +84973393484.
    Cảm ơn ai đó đã xem tin.

  3. Mình tên Tâm 24t hiện đang sinh sống tại q3 tphcm … Sinh viên trường dược đã ra trường ,nhưng do hiện tại công việc không ổn định ,có ý muốn sang 1 nơi xa để lập nghiệp và tìm 1 tổ ấm để an cư… Mong gặp được quý nhân ..thanks vì ai đã xem bài viết…

  4. Em ten mỹ linh 21 tuoi em muon tim chong viet kieu nuoc o ngoai de lm chồng tuoi từ 27 đến 40 em ko wan trọng ve đẹp ben ngoài miễn là co cong việc và nghề nghiệp ổn định la đc roi ,hiện giờ em la 1 nguoi mẹ đon thân cuoc song hien gio cua em rất kho khăn .nen em muốn tim cho mình 1 người chồng để em va con em nương tựa .mog mấy anh đọc va hiểu cho em.nếu thấy thich em thi lien hệ kb zalo để tim hiu.01284600549.(.Ai XẼ VÌ EM LÀM CHA ĐỨA BÉ)
    .

  5. Toi tim mot nguoi dan ong viet kieu o nuoc ngoai de di het quang doi con lai phai co nghe nghiep on dinh toi 35tuoi dang di tim mot nua cua minh nguoi viet kieu do phai lon hon minh biet lo gia dinh la dc

  6. Mình 44 tuổi, đã ly hôn có một bé gái, cuộc sống cũng tạm ổn, mình mong muốn tìm được một nữa yêu thương lớn tuổi hơn cùng nhau đi đến hết quãng đời còn lại, mình là mẫu người của gia đình, sống thiên về tình cảm, rất thẳng thắng và trung thực, ghét giả dối nhất là trong lĩnh vực tình cảm, mình rất nghiêm túc nên nếu ai có ý đùa thì xin đừng nhé.
    Viber or zalo +84973393484.
    Mình cảm ơn ai đó đã xem tin

Thêm ý kiến của bạn:

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Bộ gõ AVIM-Reloaded

Optionally add an image (JPEG only)